Xuân Mộc Giang là khúc sông lớn chảy ngang qua Cửu Đạo Khẩu, Đức Thắng Phủ và Xuân Huệ Phủ, đoạn gần thành mở rộng hơn trăm trượng và trở thành huyết mạch vận tải thủy của vùng. Hai bên bờ là gò đê, thôn trang và bến tàu, người dân sống dựa vào thuyền bè nên từng chữ Thủy Công hay Giang Thần đều in sâu trong tâm trí họ. Mặt nước sâu phía gần Giang Thần Từ được xem là khu vực linh khí cao, nơi bọt khí u ám từ đáy sông làm người ta liên tưởng đến đại địa đang thở.

Lớp sương mù buổi sáng dày đặc giúp tách ly người lạ, khiến hành khách dễ dàng phát hiện dòng nước có linh khí và tránh khỏi thị phi. Hơi thở Huyền Hoàng của Thiên Nhật Xuân hòa quyện với những con cá biết rượu tạo nên một văn hóa vừa tiên vừa dân gian, khiến bờ sông luôn có cảm giác được bảo hộ cả bởi thần và người. Những linh vật như cá trắm đen cứu người say, Lục Sơn Quân, và các thủy tộc vẫn hiện diện bên dưới lòng sông, giữ mạch nối giữa đất và trời bất chấp sự xáo trộn từ bên ngoài.

Thông tin cơ bản

Tên gốc: Không có

Trạng thái: Luôn chảy

Vai trò: Hoạt động như huyết mạch nước và nơi trú ẩn của các linh vật thủy, đồng thời kết nối các phủ thành lớn trong Kê Châu

Xuất thân: Bắt đầu từ vùng núi phía bắc Kê Châu

Địa điểm: Châu Kê, tiếp nối Cửu Đạo Khẩu, Đức Thắng Phủ và Xuân Huệ Phủ

Cấu trúc: Phân đoạn sông lớn và sông nhánh, có nhiều vùng ẩn cư cho thủy tộc, thần vị, cùng các vực khúc chứa phù sa và bọt khí linh cảm

Bầu không khí: Hài hòa, tươi mát ban ngày và vượng sắc hoa đăng ban đêm, phong cảnh trữ tình đan xen linh vận

Năng Lực

Thông số khác

Sản vật / Tài nguyên:

Linh khí giang hà dồi dào, thảo dược thủy sinh, vật án thần vị tự nhiên, linh đan phúc thạch

Mức độ nguy hiểm:

Vừa phải, nhưng tiềm ẩn dị biến khi địa mạch xung động hoặc có yếu tố tà lệ bên ngoài

Quan Hệ & Nhân Mạch

  • Nhóm Nhân: Ngư dân, thuyền khách, thương khách, dân phu ven sông, các cao nhân tu tiên lang thang
  • Nhóm Thủy Tộc & Linh Vật: Đại Thanh Ngư, Dạ Xoa, Bạch Giao, Bạch Tề, Lão Quy Ô Sùng, cá trắm đen, linh ngư các loại, Thủy Công

Dòng thời gian chi tiết

Hành trình khai nguyên

Xuân Mộc Giang bắt đầu từ các ngọn núi phía bắc Kê Châu và uốn khúc qua Cửu Đạo Khẩu trước khi sáp nhập vào lòng Đức Thắng Phủ rồi Xuân Huệ Phủ, đồng thời là ranh giới tự nhiên giữa các châu. Đoạn sông gần thành rộng hơn trăm trượng, phần nào lý giải vì sao nó trở thành huyết mạch vận tải thủy chính của vùng. Tiểu Thuận Hà là một nhánh mạnh mẽ đổ vào Xuân Mộc Giang, nối thêm sự sống cho toàn bộ vùng Cửu Đạo Khẩu.

Cùng với những bãi phù sa và đá ngầm, dòng sông có nhiều vùng bồi đắp, tạo điều kiện cho cả loài người và thủy linh trú ngụ. Sự trù phú đó khiến nó không chỉ là nơi thương thuyền mà còn là hành lang linh khí giữa đất và trời.

Nét dân sinh và linh khí ven sông

Hai bên bờ là gò đê, thôn trang và bến tàu nơi người dân sống bằng thuyền bè nên hiểu tường tận những việc liên quan đến Thủy Công và Giang Thần; họ thường góp hương và rượu để giữ mối hòa hợp với dòng nước. Lớp sương mù buổi sáng dày đặc giúp đánh lừa kẻ lạ và đồng thời cho phép thuyền khách phát hiện dòng nước chứa linh khí, vì những rạn khí đặc biệt luôn nổi lên tại khu vực có cát đá ngầm. Hơi thở Huyền Hoàng của Thiên Nhật Xuân phả ra từ lòng sông, pha trộn cùng bản nhạc dân gian của cá biết rượu và tiếng chèo, tạo nên văn hóa vừa tiên vừa dân gian cho Xuân Mộc Giang.

Dân phu tôn kính gọi nơi đây là nơi Ngài Giang Thần định cư, còn truyền rằng cá trắm đen đủ sức cứu người say và từng có dấu hiệu yên bình lẫn nguy cơ khi Lục Sơn Quân biến mất. Dòng sông còn là bức bình phong tự nhiên bảo vệ khu vực, giữ cho mạch nối giữa đất và trời trôi chảy dù có bao nhiêu kẻ nổi danh đến cầu.

Lễ rượu rằm tháng năm

Vào ngày rằm tháng năm, người ta truyền tai nhau câu chuyện thuyền nhân Xuân Mộc Giang từng uống chung với một con cự quy lưng đen biết nói, nó xin rượu ngon để hiến cho Giang Thần và khiến việc này trở thành truyền thống. Các thuyền khách khi nghe tới đó thường tự chuẩn bị một chén rượu nhạt thả xuống nước như lời kính ý, cầu Thủy Công Thủy Công không quấy nhiễu nếu không bị tấn công. Truyền thuyết không chỉ phát sinh từ dân gian mà còn khiến những kẻ ngoài cuộc thấy rõ phép thần linh khi con vật có thể giao tiếp bằng lời.

Sự kiện đó khiến nhiều người dày dặn kinh nghiệm phải kinh ngạc và nhận ra rằng Giang Thần là người bảo hộ lặng lẽ cho dòng sông này. Dù vậy, sông vẫn tiếp tục chảy mang nước và linh khí, cuốn theo lòng người chân thành mà tiếp nhận họ.

Địa điểm hội tụ của tiên nhân và lữ khách

Kế Duyên từng dọc theo Tiểu Thuận Hà vào Xuân Mộc Giang, đi qua nhiều huyện và dùng cảm giác phương hướng để không rẽ nhầm lối, rồi men sông lên xuôi đến Xuân Huệ Phủ. Trên đường qua các thôn vắng, hành khách rút kinh nghiệm rằng yêu vật sơ khai không thể trừ tận nếu không phối hợp với người có thủ đoạn, nên hắn ngày càng thận trọng. Ven sông đoạn gần cửa rồng, bến tàu luôn đông đúc, thuyền khách tranh thủ bắt cá lớn trước khi ra xuôi, trong khi những người trên tàu nhỏ thể hiện sự thân thiện còn người đàn ông đi qua thì lưu ý đặt một bát canh cá Ngân Khiếu Tử để khiến ông thuyền tài nạp Huyền Hoàng.

Khi đến Giang Thần Từ, đông đảo tín chủ và tiểu thương chen chân, hương nhang lan tỏa và tiền lễ được đặt lên lòng sông, khiến nơi này trở thành ngã rẽ ồn ào giữa lữ hành và thần khí. Những sự kiện ấy khiến Xuân Mộc Giang luôn là điểm hội tụ của cả nhân gian và cao nhân tu tiên, là nơi để các nhân vật lắng nghe và nối gót thần linh.

Giang Thần Bạch Tề hiển linh

Giang Thần Từ ngoài thành Xuân Huệ Phủ là nơi Bạch Tề – một con Bạch Giao không có vảy – ngồi tĩnh tại, mang vẻ u uất do hai lần thất bại trong tẩu thủy hóa rồng; hắn chỉ phản ứng mạnh mẽ khi cảm nhận luồng Huyền Hoàng đặc biệt. Dân chúng tưởng hắn tĩnh mịch nhưng thực chất Bạch Tề luôn quan sát hương nhang và từng phản ứng bằng sóng nước thay vì giết người, còn tâm can hắn đau đầu khi có ai quá gần Khí Trời. Kế Duyên cùng Hồ Vân và các bằng hữu từng đến đây, nơi Bạch Tề chấp nhận cầu xin gặp để nói thẳng mong Long Quân dẫn đến gặp vị tiên sinh và được chỉ điểm con đường chân chính.

Trong Thông Thiên Giang, Bạch Giao dẫn Lão Quy và Đại Thanh Ngư rẽ nước để đến yết kiến, khiến môi trường thủy giới quy củ hơn; những lúc Bạch Tề xuất hiện ngồi một mình trong điện, sự hiện diện khiến khách hành hương hiểu rõ sự đối nghịch giữa một bên là tu đạo bất chợt và một bên là cảm thụ linh sát từ lòng sông. Tình thế đó biến Xuân Mộc Giang thành nền tảng cho việc hàn gắn mối quan hệ giữa nhân gian và thủy thần, đồng thời cảnh tỉnh những ai định xem nhẹ thế lực đằng sau dòng nước.