Logo
Trang chủ

Chương 6: Tiến về Nam, hành trình đi mở đất.

Tiến về Nam, hành trình đi mở đất,
Lấy sức người chống chọi với thiên nhiên.
Ôi quá khứ, xưa đất trời rộng bước,
Lại bừng sôi khát vọng của tổ tiên.


Xin lưu ý chút ạ, trong thời điểm cụ Tử Nam định cư lại Việt Nam, cụ đã chính thức chuyển từ họ Hoàng sang họ Huỳnh nhưng trong giai đoạn nào, năm nào thì không được ghi rõ, có thể là lúc đăng ký hộ tịch ạ.

Sau khi cụ Tử Nam mất, công việc kinh doanh, buôn bán trên biển của họ Huỳnh cũng dần sụp đổ do chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, các thương thuyền và hội quán làm ăn của người Hoa cũng dần bị hạn chế. Các con cụ trở về trồng trọt trên mảnh đất hương hỏa do cha để lại cũng tạm nuôi sống bản thân qua ngày. 4 người con trai đều kết hôn cùng người Việt bản xứ và sinh được 14 người cháu, riêng người con út là cụ Huỳnh Phùng Ngọc chính là cụ cố kỵ trực hệ của em sinh được 2 người con trai là Ngọc Khiêm và Ngọc Minh. Thế hệ thứ ba này đã gần như Việt hóa rồi nhưng truyền thống gia đình vẫn giữ nguyên và nói được tiếng Hán. Vốn cuộc sống vẫn yên bình nhưng đến thời vua Tự Đức, quân viễn chinh của Phú Lang Sa và Y Pha Nho( Pháp và Tây Ban Nha) đổ bộ và tấn công nước ta, quân triều đình đại bại tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng đành rút về kinh thành Phú Xuân. Quân giặc tấn công rất nhiều lần và dân trong thành ngoài thành tử thương vô số. Rất nhiều gia quyến họ Huỳnh đã tử nạn hoặc bỏ trốn, cụ Phùng Ngọc cũng mất vợ trong cảnh loạn lạc. Cụ lúc đấy gánh 2 con trên quang gánh, chạy vào gần rừng núi mà sống. Tục rằng cụ đi suốt 1 ngày một đêm không dám ngừng, cũng không còn lương thực, chỉ uống nước cầm hơi, đến đêm không còn đi nỗi phần vì mệt và vì đói, các con thì nhớ mẹ mà khóc lả cả giọng, lòng cụ đau như cắt. Cứ tưởng 3 cha con sẽ chết ở xứ heo hút này thì bỗng thấy dưới đất có nắm xôi, nhưng xôi dính đầy đất cát, lại còn nổi mốc xanh. Còn cách nào khác nữa, cụ nhặt lên, phủi phủi bụi đất rồi 3 cha con chia nhau ăn, nhờ thế mà có sức mà vào đến được khu có người, rồi sống nương náu ở đấy đến khi cụ mất.

Về phần 2 cụ Ngọc Khiêm và Ngọc Minh thời gian lớn lên cũng có gia đình, cụ Khiêm có 9 người con. Do thời thế loạn lạc, mất mùa đói kém, đất đai trong rừng núi khô cằn khó trồng trọt, không đủ nuôi thân. 2 anh em quyết đưa tất cả gia quyến lên thuyền ra biển, suôi về Nam để lập nghiệp.

Trùng dương sóng cuộn ba đào
Kêu trời gọi đất biết nào hiểm nguy
.

Giữa muôn trùng sóng nước, đoàn người như bầy kiến giữa dòng, cứ thả trôi như thế đến ngày thứ 4 thì gặp cơn bão biển, đêm đến sáng thì ghe thuyền của cụ Ngọc Minh đã không còn thấy tăm hơi đâu nữa, không biết đã trôi nơi nào hay đã bị chìm trong đêm bão. Thuyền cụ Ngọc Khiêm trôi về vùng Cần Giờ thì cập bến, người dân trong vùng thương tình cứu giúp và cho ở tạm.
Được một thời gian thì gia đình cụ có liên hiệp với hội bạn thương buôn, cùng nhau xuôi thuyền về xứ Hà Tiên, Cà Mau mà buôn bán và tìm nơi chốn lập nghiệp vì nghe rằng xứ Hà Tiên lúc đấy là nơi tấp nập, trù phú.

Tích kể rằng khi đoàn thuyền đi ngang cửa sông Ba Lai trời đã sập tối, dự định ghé thuyền vào lạch nhỏ để nghĩ ngơi bỗng lúc đấy có người phát hiện nhiều đóm lửa ma trơi bay dập dìu trên mặt sông đang tiến lại gần thuyền. Cả đoàn cùng soi đuốc để xem sự lạ thì mới tả hỏa, thì ra là một bầy cọp có lớn có nhỏ đang bơi bập bõm lại gần, trên đầu chúng thì lửa ma cứ bay vờn quanh. Mọi người tái hết cả mặt mày, vội vàng nhổ sào chống thuyền đi gấp, bầy hổ vẫn cứ bơi theo thuyền một đoạn khá xa, chỉ còn thấy những đốm lửa xanh lập lờ trên mặt nước.
Đoàn thuyền đến cửa sông cái vùng Cù Lao Minh thì đã tối khuya, cả đội cùng vào bãi neo lại thổi cơm. Đây là một bãi hoang đưa ra cửa sông cây lá um tùm. Cơm nước xong xuôi thì cùng hẹn nhau đến giờ nước lên sẽ gọi nhau để nhổ neo lên đường. Yên tâm thế cộng với đường xa mệt nhọc nên cụ Ngọc Khiêm ngủ say giấc. Nào hay đến giờ thì các bạn thuyền âm thầm nhổ neo rời bến, không gọi một lời, tới khi cụ tỉnh giấc thì nước đã rút khiến thuyền mắc cạn, vợ chồng cụ chèo chóng thế nào cũng không xong. Đang lúc buồn não ruột vì bạn bè toan tính, hại mình và cũng lo lắng vì vốn không biết đường nào đi tiếp thì bỗng bên trong vàm lá hoang nghe văng vẳng tiếng phụ nữ ru con:

- Ầu ơ... dí dầu...
.. Cây khô tưới nước cũng khô...
...Phận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo...
Ầu ơ....dí dầu...

Lời ru nghe não nề, tha thiết, cứ lặp đi lặp lại, vang vọng trong đêm thâu. Cụ hiểu được ý nghĩa của câu trên bèn thôi không đi nữa, vợ chồng con kiến cùng nhau dắt díu lên bờ. Từ đấy bắt đầu xây tạm mái nhà tranh, 2 cụ cùng nhau khai hoang từ mé sông Cái trở vào, điều lạ là lúc lên bờ và khai hoang thì tuyệt không thấy xung quanh có nhà cửa của ai cả, chỉ có một ngôi miếu nhỏ trong gò, lâu năm tiêu điều hoang phế nên cụ coi như đêm đấy là thần nhân chỉ điểm cho mình đường lối, cũng sửa sang lại ngôi miếu mà hương khói.
Nhờ chăm chỉ khai hoang, làm lụng và biết tích góp, ông bà dần dà giàu có. Ngoài đất do mình khai phá, ông bà còn mua thêm đất của những người nông dân nghèo nhập vào, trong vòng hai mươi năm ông bà đã có một gia tài đồ sộ gần 2000 mẫu đất ( đây là số liệu được ghi rõ lại ạ. Các bác lên Google xem về nhà cổ Đại Điền cũng có ghi số liệu chi tiết ạ.)

Từ đấy, ông trở thành 1 trong tam đại địa chủ giàu nhất của xứ Bến Tre, thời xưa gọi là Tam Hào Hoằng Trị gồm 3 vị Phủ Kiển, Phó Hoài và Hương Liêm( Phủ Hoằng Trị là tên gọi Bến Tre và một phần của tỉnh Vĩnh Long xưa).

Chương 6 này kể về quá trình vào Nam và định cư của các cụ, phần này em khái quát sơ lược chút về hoàn cảnh, phần sau em sẽ bắt đầu kể cụ thể và chi tiết hơn, sẽ bắt đầu một đoạn các chuyện ly kỳ huyền bí trong quá trình khai hoang, lập ấp và các chuyện xung quanh xứ Đại Điền.

Cám ơn cả nhà đã theo dõi ạ.

BÌNH LUẬN